Một thoáng Nhật Bản, Haiku – Edo là cố hương

Basho sinh ra và lớn lên trong một gia đình samurai ở thành Ueno, nằm giữa Kyoto và Ise. Năm lên 9 tuổi ông vào lâu đài Ueno làm tùy tùng cho lãnh chúa và trở thành bạn thân thiết với con trai vị lãnh chúa này, một người chỉ lớn hơn ông vài tuổi tên là Yoshitada. Khi người bạn Yoshitada lâm bạo bệnh mất vào năm 24 tuổi, Basho quyết định rời bỏ lâu đài Ueno mặc dù không được phép của lãnh chúa. Năm 1666, ông đến Kyoto và sống ở đây 5 năm. Mùa xuân năm 1672, sau một thời gian về quê chừng vài tháng, ông dời lên sống ở Edo. Sau một thời gian dài sống ở Edo nhưng trong lòng vẫn không sao quên được chốn xưa, Basho khăn gói về thăm quê cũ, nhưng khi bước chân đầu tiên bước ra khỏi Edo thì lòng lại bàng hoàng sực tỉnh, nơi đất khách đã trở thành quê hương tự bao giờ.

Đất khách mười mùa sương
Về thăm quê ngoảnh lại
Edo là cố hương

Trong tâm thức, người phương Đông rất sợ sự phiêu lưu nơi đất khách quê người. Chính vì thế, khi cuộc đời đã xế chiều mà họ không trở về quê cũ thì đó là một bất hạnh lớn lao. Nỗi buồn ly hương chôn chặt trong lòng mười năm rồi mà không sao vơi được. Mười năm là khoảng lặng tạo độ mờ cho kỷ niệm và sự hoài nhớ, mười năm cũng là quãng thời gian dài đủ để lưu luyến, đủ để yêu thương một mảnh đất, con người. Người lữ khách tha hương ngày đêm vẫn tưởng nhớ về mảnh đất xưa, một vầng trăng, một mái nhà. Trong tâm thức của người lữ khách, kỷ niệm quê hương hễ có dịp là lại trào lên như cơn sóng. Một ngày nhân vật trữ tình hăm hở rũ bỏ những bộn bề cuộc sống lại sau lưng hăm hở trên con đường trở về quê cũ, bước chân ko giấu nổi sự mừng vui, nhưng than ôi, ngay bước chân đầu tiên ra khỏi Edo, ngoảnh lại thấy lòng bàng hoàng ko nỡ dứt, đất khách đã trở thành quê hương tự bao giờ.

Con người là vậy, luôn đứng núi này trông núi nọ, không bao giờ biết tri túc, không bao giờ biết dừng lại, vốn chẳng bao giờ biết yêu quí và trân trọng những cái gì mình đang có, để rồi một khi mất đi lại tiếc nuối, xót xa . Từ ngoảnh lại thấm đẫm ý thiền, trong một khoảnh khắc tâm linh đã bừng sáng, nhân vật như sực tỉnh trong khoảnh khắc đã đạt được sự giác ngộ. Bài thơ ngắn ngủi chỉ vẻn vẹn vài dòng, nhưng tình cảm dồn nén sao mà mênh mông, không bút nào tả xiết, quả là phi thường vậy.

Quê hương lẽ nào “mỗi người chỉ một” như thơ của Đỗ Trung Quân, mà có lẽ nên như Chế Lan Viên chăng:

“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” 

Haiku là một thể loại thơ nổi tiếng của Nhật Bản gắn liền với tên tuổi lừng lẫy của nhà thơ Basho , người có thể được coi là nhà thơ vĩ đại nhất của nước Nhật. Đối với nước Nhật mà nói, vị trí của Basho đối với thi ca Nhật Bản cũng như vị trí của Nguyễn Du đối với thi ca Việt Nam vậy.

Sinh ra trong thời kỳ Edo – thời đại hoàng kim của văn hóa Nhật – trong một gia đình Samurai cấp thấp phục vụ cho lãnh chúa thành Ueno, Basho được công nhận rộng rãi là người đầu tiên sáng lập và phát triển thể loại thơ haiku – một thể loại thơ vô cùng ngắn ngủi, cô đọng và hàm súc, chỉ vẻn vẹn vài dòng, tựa như những nét chấm phá đơn sơ của một bức tranh thủy mặc nhưng lại có sức ám thị mạnh mẽ.

Khác với các nhà văn Trung Quốc như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tào Tuyết Cần chịu ảnh hưởng của học thuyết Lão Trang – tư tưởng tự do phóng túng, cưỡi mây cưỡi gió mà đi. Chẳng hạn như nhà thơ nổi tiếng Lý Bạch, ông là người nổi tiếng thích uống rượu, múa kiếm giỏi và “ngông”, thơ ông đầy những rượu và trăng. Trong thế giới của trí tưởng tượng tự do phóng túng và bay bổng của Lý Bạch thế giới thiên nhiên trong thơ ông hiện ra một cách phong phú và hùng vỹ và vô cùng tráng lệ, tình cảm mênh mang như sóng sông Hoàng Hà. Ngược lại văn học nhật Bản nói chung và thơ haiku nói riêng, cũng như những nghệ thuật khác của Nhật Bản như Trà đạo, Kiếm đạo, đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của Thiền học. Vẻ đẹp của nghệ thuật Nhật Bản là vẻ đẹp cổ kính, không rực rỡ, lộng lẫy mà phảng phất nét cô tịch u huyền (yugen). Đọc thơ haiku của Basho người ta thấy thiên nhiên hiện ra với một vẻ đẹp trầm lắng, man mác, u hoài diệu vợi.

Chịu ảnh hưởng sâu sắc của Thiền học, các nhà nghệ thuật Nhật Bản thường có khuynh hướng diễn tả tình cảm với số chữ hoặc số nét tối thiểu, điều tối kỵ khi làm thơ haiku là khuynh hướng thích lý luận dông dài (như trong nghệ thuật cắm hoa Ikebana căm ghét nụ và lá thừa, như thể loại kịch Noh căm ghét những điệu bộ vô nghĩa, như Sumie (tranh thủy mặc căm ghét những nét vẽ vô vị… Các tác phẩm văn chương của các tên tuổi nổi tiếng Nhật bản như Shibaryou Tarou, Yoshikawa Eji, Kawabata cũng vậy, các tác phẩm của họ thường vô cùng cô đọng, ngắn gọn và đơn giản, ngôn ngữ sử được sử dụng thường trong sáng, giản dị, không khoa trương, được đưa vào khuôn vàng thước ngọc của phép lịch sự và khiêm nhường, không bay bổng nhả gấm phun châu như các tác phẩm nổi tiếng của Trung Quốc như Hồng lâu mộng, Tây sương ký, nhưng lại ẩn chứa những triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc, những rung cảm sâu xa, đầy đam mê mà tinh tế của tâm hồn Nhật.

Có rất nhiều bài thơ Haiku nổi tiếng đã từng làm say mê biết bao thế hệ độc giả Nhật bản, nhưng cũng rất khó để có thể chuyển ngữ sang tiếng nước ngoài. Haiku là thể thơ vô cùng cô đọng, hàm súc, chỉ hay nhất khi ta đọc nguyên bản nó bằng tiếng Nhật, khi dịch sang tiếng Việt một số bài cũng đã chuyển tải được cái hồn của nó, nhưng cũng có nhiều bài ý nghĩa và cảm xúc bị mai một đi khá nhiều, thậm chí vô nghĩa

Atho
05/10/2009

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s